TIN TỨC‎ > ‎

Tin nội bộ

Doanh nghiệp thoát phiền nhờ “hóa đơn điện tử

đăng 00:52, 22 thg 7, 2017 bởi In Nam Phương   [ đã cập nhật 00:53, 22 thg 7, 2017 ]

Sự ra đời của hóa đơn điện tử đã giúp rất nhiều doanh nghiệp thoát khỏi sự phiền phức khi sử dụng IN hóa đơn giấy, điều này đã làm tăng năng suất lao động cũng như đem lại nhiều tiện ích trong công tác quản trị doanh nghiệp.

Nhiều doanh nghiệp lựa chọn

Kể từ khi được Bộ Tài chính chính thức triển khai năm 2011, đến in hoa don điện tử thay thế hoá đơn giấy, trở thành sự lựa chọn của rất nhiều doanh nghiệp. Tính đến tháng 11/2016, cả nước có hơn 800 doanh nghiệp thực hiện hoá đơn điện tử khi bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ.

Sử dụng hóa đơn điện tử doanh nghiệp sẽ giảm tới 70% các bước quy trình phát hành và 90% các tranh chấp liên quan đến hoá đơn; tiết kiệm nhiều thời gian để vận hành doanh nghiệp hiệu quả hơn; tiết kiệm lên tới 80% chi phí cho mỗi hóa đơn.

Đại diện Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội, một trong những đơn vị tiếp cận khá sớm với hóa đơn điện tử cho biết: Trước kia mỗi năm sở phải tự in khoảng 2500 hóa đơn giá trị gia tăng theo quy định của cơ quan thuế, từ quy trình đặt in, sau đó phát hóa đơn với các đơn vị giao dịch mất nhiều thời gian, tiền bạc, và nếu xảy ra thất lạc thì thủ tục làm lại rất phức tạp. Kể từ khi chuyển sang hóa đơn điện tử năng lực xuất hóa đơn của đơn vị có thể lên tới hơn 1 triệu hóa đơn/năm, tiết kiệm được một khoản rất lớn về giấy công in, thời gian cũng như sức lực của đội ngũ nhân viên.

Đối với ngân hàng, hoá đơn điện tử cũng thể hiện sự vượt trội so với so hoá giấy trong việc tiết kiệm thời gian thực hiện các nghiệp vụ thuế. Chị Nguyễn Thị Ngọc Anh, Phó phòng Giao dịch chi nhánh Sacombank tại Hải Phòng cho biết: “Tại ngân hàng chúng tôi sử dụng phần mềm với đầy đủ thông tin dữ liệu, trong đó tích hợp cả hóa đơn Giá trị gia tăng và cả lệnh chuyển tiền cho khách hàng. Hóa đơn điện tử in ra có độ chính xác rất cao, giảm thiểu thời gian chờ đợi. Kinh nghiệm làm kế toán doanh nghiệp trước đây của tôi cho thấy, làm thuế, dùng hóa đơn viết tay sai sót rất nhiều. Còn bây giờ với phần mềm, khi cần làm báo cáo liên quan đến thuế thì truy suất dữ liệu đơn giản, nhanh gọn hơn rất nhiều”.

Bà Chu Thị Ngọc Hạnh – Giám đốc Tài chính công ty CP Navigos Group VietNam cho biết: "Khi sử dụng hóa đơn giấy, phải 8 giờ mới xuất được một cái hoá đơn cho khách. Nhưng giờ với hóa đơn điện tử, 1 phút chúng tôi đã có thể xuất được hóa đơn. Khách hàng vừa đặt đơn hàng xong, lập tức biết giá trị của đơn hàng và biết mình phải thanh toán là bao nhiêu. Hiệu quả cả hai bên đều nhận thấy, nên ai cũng hài lòng”.

Khó khăn khi thực hiện hóa đơn điện tử

đăng 19:28, 4 thg 7, 2017 bởi In Nam Phương   [ đã cập nhật 19:28, 4 thg 7, 2017 ]

Chủ trương dùng in hóa đơn điện tử (HĐĐT) và kết nối dữ liệu trong kinh doanh xăng dầu (KDXD) của Tổng cục Thuế triển khai thí điểm tại Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam (Petrolimex) được kỳ vọng sẽ mang lại lợi ích cho cả Nhà nước, doanh nghiệp (DN) và người tiêu dùng.

Tuy nhiên, nếu không có tiềm lực về tài chính, sự đồng bộ về cơ sở hạ tầng cột bơm, các trang, thiết bị hiện đại, sự đồng thuận của các bên liên quan,... thì việc áp dụng và triển khai HĐĐT trong KDXD khó đi vào thực tế.

Tăng kiểm soát nguồn thu

Việc sử dụng HĐĐT trong lĩnh vực xăng dầu được đánh giá là hướng đi thích hợp, đáp ứng nhu cầu phát triển của văn minh thương mại thế giới. HĐĐT mang lại cho DN một số lợi ích như: Tiết giảm chi phí in ấn hóa đơn; bảo đảm an toàn lưu trữ thông tin, khắc phục tình trạng mất in hóa đơn trong quá trình vận chuyển, lưu trữ, mua bán; giảm chi phí lao động bảo quản,... Khi triển khai HĐĐT, cả cơ quan quản lý thuế, DN đều có thể truy cập nhanh chóng vào Cổng thông tin xăng dầu của DN để tra cứu tất cả thông tin mua vào, bán ra, giúp cả hai phía thuận tiện trong việc kiểm soát, đối chiếu số liệu.

Việc triển khai HĐĐT xăng dầu cũng được kỳ vọng góp phần minh bạch hóa hoạt động kinh doanh, ngăn chặn tình trạng buôn bán xăng dầu lậu, không rõ nguồn gốc trên thị trường, từ đó chống thất thu thuế cho Nhà nước. Ngành thuế kỳ vọng sẽ tích hợp phần mềm quản lý bán hàng song song, đồng bộ phần mềm quản lý thuế để cá nhân, DN có thể lập tức lấy được hóa đơn khi thực hiện mua bán xăng dầu tại các cột bơm. Cùng với đó, dữ liệu mua bán được truyền thẳng về cơ quan thuế để quản lý, giám sát.

Đại diện Tổng cục Thuế cho biết, ngay từ bây giờ, phải nghiên cứu áp dụng các ứng dụng khoa học công nghệ, đầu tư hệ thống, thiết bị và chuẩn bị cơ sở pháp lý để áp dụng HĐĐT đến tất cả các cửa hàng, chi nhánh, công ty KDXD và thực hiện kết nối dữ liệu HĐĐT đến cơ quan thuế. Tuy nhiên, do mặt bằng chung giữa các DN đầu mối chưa đồng bộ cho nên ngành thuế mới chỉ đưa ra quy định khuyến khích các doanh nghiệp có đủ điều kiện thực hiện.

Thời gian tới, về cơ sở pháp lý, có thể sửa đổi theo hướng coi việc kết nối dữ liệu HĐĐT với cơ quan thuế là điều kiện bắt buộc đối với KDXD. Vị đại diện này cũng khẳng định, quy trình lấy hóa đơn ở các điểm mua, bán xăng dầu hiện nay rất phức tạp và thủ công. Vì vậy, đã xảy ra tình trạng ai cần hóa đơn thì viết, không thì thôi, tạo ra sự gian lận trong việc hợp thức hóa hóa đơn lĩnh vực xăng dầu. Nhiều cửa hàng xăng dầu có thể gom số lượng xăng, dầu bán ra của những người mua không cần hóa đơn để bán lại cho những người cần hóa đơn dù họ không thực hiện giao dịch mua bán.

Đẩy mạnh đầu tư

Một trong những vấn đề mà người tiêu dùng quan tâm đó là việc sử dụng HĐĐT có kiểm soát được lượng xăng dầu không rõ nguồn gốc, kém chất lượng đang lưu thông trên thị trường? Phó Tổng Giám đốc Petrolimex Trần Ngọc Năm cho biết, vấn đề quan trọng nhất để chống buôn lậu xăng dầu là cơ quan quản lý phải giám sát được toàn bộ giao dịch mua vào, xuất ra của các DN KDXD, không chỉ qua cột bơm mà qua cả các phương tiện đo lường khác. V

iệc giám sát này sẽ thực hiện được khi có sự kết nối tự động tất cả các thông tin mua vào, bán ra của DN. Nói cách khác, đó là việc ứng dụng tự động hóa để khi nhận tất cả các thông tin của từng giao dịch từ phương tiện đo lường, bể chứa vào hệ thống thông tin quản trị DN thông qua một giải pháp phần mềm và được kết nối trực tiếp với cơ quan hải quan hay cơ quan thuế.

Hiện nay, Petrolimex đã có kế hoạch đầu tư khoảng 30 tỷ đồng để hiện thực hóa chủ trương dùng HĐĐT trong KDXD. Dự kiến trong quý IV, Petrolimex thực hiện thí điểm tại Công ty mẹ Tập đoàn và ba công ty thành viên (khoảng 292 cửa hàng KDXD) có khối lượng khách hàng lớn và đại diện cho các vùng miền mà Petrolimex đang tổ chức hoạt động kinh doanh. Đầu năm 2018, Tập đoàn tiếp tục triển khai ở 18 công ty thành viên khác và giai đoạn 3 thực hiện ở các công ty còn lại.

Tuy nhiên, việc thí điểm chuyển từ hình thức in hóa đơn sang HĐĐT có những khó khăn nhất định. Đầu tiên là việc Petrolimex phải tốn chi phí đầu tư cơ sở hạ tầng, giải pháp để triển khai. Chủ trương này đòi hỏi cả việc kết nối thông tin cột bơm xăng dầu tại các cửa hàng trong hệ thống Petrolimex với Cổng thông tin xăng dầu. Các cột bơm đầu tư phải đạt chuẩn nhất định mới có thể kết nối các thông tin từ cột bơm vào hệ thống quản lý của DN thông qua giải pháp tự động hóa.

Nhìn nhận ở khía cạnh hiệu quả kinh tế, Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Tổng Giám đốc Tổng công ty Du lịch và thương mại Sông Hồng Lê Công Hoàng khẳng định, việc sử dụng HĐĐT và cung cấp chứng từ bán lẻ xăng dầu cho khách hàng rất thông dụng, phổ biến, phù hợp thông lệ quốc tế. Tuy nhiên, ở Việt Nam lại đang trong giai đoạn phát triển từng bước. Trước thói quen sử dụng tiền mặt thuần túy, ít đơn vị áp dụng phần mềm công nghệ hiện đại khiến hiệu quả kinh tế mang lại không cao. Trước kia Tổng công ty đã đầu tư hàng loạt thiết bị hiện đại, đắt tiền nhưng không thể áp dụng, đành phải bỏ.

Tương tự, chuyên gia kinh tế Lê Đăng Doanh cho biết, việc dùng HĐĐT phù hợp với sự phát triển của xã hội. Thế nhưng, chúng ta có thói quen dùng tiền mặt cho nên khi mua bán, phần lớn không đòi hỏi hóa đơn, chứng từ. Do đó, thực hiện chủ trương này là một thách thức không nhỏ. Muốn làm được phải có sự đầu tư về trang thiết bị hiện đại, sự thay đổi trong nhận thức của người tiêu dùng cũng như các cơ quan quản lý mới có thể thực hiện được. Còn việc bảo đảm chất lượng xăng dầu lại là vấn đề khác. Các DN và cơ quan chủ quản phải tăng cường kiểm soát và xử lý vi phạm mới bảo đảm quyền, lợi ích của người tiêu dùng.

Chủ trương dùng HĐĐT chỉ có thể khả thi khi có quy định pháp lý yêu cầu tất cả các DN KDXD triển khai đồng bộ. Việc sử dụng HĐĐT trong KDXD cũng cần sự đồng thuận từ DN, người mua và cả các cơ quan quản lý. Việc phát hành HĐĐT chỉ có thể thực hiện được khi nhập liệu đầy đủ thông tin cơ bản theo quy định của Nhà nước về việc quản lý, sử dụng hóa đơn. Trong khi đó, phần lớn các chủ phương tiện xe máy mua xăng dầu với giao dịch nhỏ thường không có nhu cầu lấy hóa đơn hoặc nếu tất cả khách hàng xe máy yêu cầu lấy hóa đơn thì DN sẽ gặp rất nhiều khó khăn bởi số lượng giao dịch quá lớn.

Lợi ích thiết thực từ hóa đơn điện tử

đăng 00:04, 30 thg 6, 2017 bởi In Nam Phương   [ đã cập nhật 00:05, 30 thg 6, 2017 ]

* Bà Nguyễn Diệu Tú – Phó Tổng giám đốc, cổ đông sáng lập Công ty cổ phần BMSGROUP Global: “Minh bạch, tiết kiệm, giảm thiểu hóa đơn giả”

Có thể thấy rằng, việc sử dụng IN hóa đơn điện tử mang lại rất nhiều lợi ích cho DN. Sử dụng hóa đơn điện tử sẽ giúp các nhà quản lý,  điều hành DN kiểm soát tốt hơn quá trình phát hành, lưu trữ và sử dụng hóa đơn.

Bên cạnh đó, với phần mềm hóa đơn điện tử xác thực, DN chỉ cần thực hiện những thao tác đơn giản là tạo, lập hóa đơn ngay trên máy tính sau đó gửi trực tiếp cho khách hàng qua mạng

internet. Với các mã số xác thực có trên mỗi hóa đơn, cơ quan thuế cũng dễ dàng tra cứu được tình trạng sử dụng hóa đơn của DN để thanh kiểm tra chặt chẽ hơn.

Thêm vào đó, trong nhiều năm qua, việc dùng hóa đơn giấy đã gây ra nhiều rắc rối, sai sót, rườm rà. Khi sử dụng hóa đơn điện tử, chúng tôi thấy có thể tránh được nhiều sai sót, nhất là việc làm giả hóa đơn, giúp tăng tính minh bạch của DN, giảm thiểu tình trạng mua bán hóa đơn trôi nổi trên thị trường.

Hơn thế nữa, đa số DN Việt là DN nhỏ và vừa, nguồn vốn đầu tư cho sản xuất – kinh doanh hạn hẹp. Do đó, việc tiết kiệm chi phí luôn là bài toán khó được đặt ra trước mắt. Rõ ràng, hóa đơn điện tử giúp các DN tiết kiệm được thời gian, chi phí lưu trữ, bảo quản, vận chuyển và in ấn, phát hành – một khoản tính ra cũng không phải là nhỏ. 

* Ông Nguyễn Văn Tình – Chủ tịch Hội đồng Quản trị Công ty TNHH Đất Việt: “Thông qua hóa đơn điện tử, DN có thể quảng bá thương hiệu”

Cùng với việc thực hiện Nghị quyết 19, Nghị quyết 35 của Chính phủ, thời gian qua, ngành Tài chính đã đầu tư nghiên cứu nhiều giải pháp nhằm tạo thuận lợi tối đa cho sự phát triển của cộng đồng DN. Nhìn từ thực tế cho thấy, kết quả đạt được, nhất là trong cải cách thuế đã và đang có sức lan tỏa rộng lớn, từ việc đầu tư xây dựng và vận hành tốt website, truyền thông về phương pháp khai, nộp thuế điện tử đến việc quán triệt về đạo đức, thái độ của công chức ngành trong thực hiện chuyên môn... Tất cả những nỗ lực ấy khiến cho việc thực hiện nghĩa vụ nộp thuế của DN không còn nặng nề. Quản lý thuế điện tử đã không chỉ mang lại lợi ích thiết thực cho DN và cơ quan thuế mà sâu xa còn mang lại nhiều lợi ích cho xã hội.

Qua thời gian sử dụng, chúng tôi thấy, hóa đơn điện tử là loại hình hóa đơn có tính bảo mật rất cao và tính minh bạch lớn. Hệ thống phần mềm hóa đơn điện tử vừa bảo đảm tính chính xác, chặt chẽ, vừa đơn giản lại vừa được bảo mật tuyệt đối. Đặc biệt, phần mềm hóa đơn điện tử cho phép DN có thể tạo mẫu hóa đơn và phát hành hóa đơn tại chỗ ngay trong ngày mà không cần phải đến cơ quan thuế. Trong khi đó, nhà quản lý DN vẫn dễ theo dõi chứng từ thanh toán, nhận giấy báo và truy nhập nhận hóa đơn nhanh chóng; khai báo và quyết toán thuế thuận tiện, truy lục hóa đơn, tránh thất thoát, cháy hỏng hóa đơn và bảo vệ môi trường…

Ngoài ra, DN còn có thể tự thiết kế mẫu hoá đơn, chủ động đưa hình ảnh thương hiệu của đơn vị mình lên hóa đơn để quảng bá về thương hiệu của mình.

* Ông Lê Thanh Thủy, Giám đốc Công ty TNHH Công nghiệp Trí Cường (Hà Nội): “Đáng đồng tiền, bát gạo”

Chúng ta đang tiến đến nền công nghiệp 4.0, mọi DN muốn thành công đều  phải áp dụng công nghệ thông tin, tự động hóa để tăng năng suất và giảm chi phí. Theo xu hướng này, công ty chúng tôi cũng đã và đang cải tiến theo hướng tự động hóa, áp dụng công nghệ thông tin vào quản lý, quản trị. Đặc biệt chúng tôi đang dần dần áp dụng in hoa don điện tử trong thực hiện nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước. Cùng với sự phát triển như vũ bão của công nghệ số, việc áp dụng hóa đơn điện tử là tất yếu và phù hợp với các công nghệ tiên tiến đang được áp dụng trên thế giới như Mobile Banking, Internet Banking, SMS Banking..., giúp triển khai dễ dàng và thực hiện nhanh chóng, hiệu quả.

Cần chia sẻ thêm là, lúc đầu khi mới bắt tay vào triển khai sử dụng hóa đơn điện tử sẽ gặp phải những rắc rối, khó khăn nhất định. Tuy nhiên, khi đã sử dụng quen thì không chỉ hóa đơn điện tử mà cả các phần mềm quản lý, sẽ thấy được rất nhiều tiện ích, tiết kiệm được thời gian, chi phí và hướng DN đến một mô hình hoạt động hiện đại, năng động. Nói chung đầu tư sử dụng hóa đơn điện tử đem lại rất nhiều lợi ích “đáng đồng tiền, bát gạo”./.

Ngành thuế phủ sóng hóa đơn điện tử 2018

đăng 20:39, 13 thg 6, 2017 bởi In Nam Phương   [ đã cập nhật 20:40, 13 thg 6, 2017 ]

Với gần 100% doanh nghiệp áp dụng kê khai thuế qua mạng như hiện nay, ngành thuế nhận định: Đây là cơ sở để "phủ sóng" IN hóa đơn điện tử trong thời gian tới.

Dự kiến từ năm 2018 đến 2020, ngành thuế sẽ triển khai mở rộng hóa đơn điện tử đối với toàn bộ người nộp thuế bao gồm các doanh nghiệp và cá nhân kinh doanh. Theo đó, từ ngày 1/1/2018, các đối tượng sau sử dụng hóa đơn điện tử/hóa đơn điện tử có mã của cơ quan thuế cho hoạt động bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ: Các doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp sử dụng hóa đơn điện tử kể từ khi có mã số thuế và định kỳ thực hiện kết chuyển dữ liệu hóa đơn cho cơ quan thuế; các doanh nghiệp, tổ chức sử dụng hóa đơn điện tử có mã xác thực của cơ quan thuế.

Tính đến nay cả nước đã có 656 doanh nghiệp thực hiện in hoa don điện tử với số lượng hóa đơn điện tử đã sử dụng khoảng 277,98 triệu hóa đơn. Cơ bản các tỉnh, thành trên cả nước đều đã có doanh nghiệp sử dụng hóa đơn điện tử nhưng tập trung chủ yếu ở hai thành phố lớn là TP.Hà Nội và TP.Hồ Chí Minh, hầu hết là các doanh nghiệp lớn hoạt động trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ, có hạ tầng công nghệ thông tin phát triển, ít rủi ro.

Ônng Nguyễn Văn Phụng, Vụ trưởng Vụ doanh nghiệp lớn, Tổng cục Thuế cho biết: Trong giai đoạn đầu thí điểm, hóa đơn điện tử đã nhận được sự ủng hộ của nhiều doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực: Hàng không, ngân hàng, điện lực, viễn thông… Hiện nay, cơ quan thuế có cơ chế khuyến khích doanh nghiệp sử dụng để về lâu dài mở rộng trong phạm vi cả nước.

Theo Tổng công ty Dịch vụ Viễn thông VNPT Vinaphone, việc sử dụng hóa đơn điện tử trong doanh nghiệp không chỉ giúp các nhà quản lý doanh nghiệp kiểm soát tốt hơn quá trình phát hành, lưu trữ và sử dụng hóa đơn mà còn tránh được nhiều sai sót, làm giả hóa đơn mà những hình thức khác có thể. Hóa đơn điện tử còn giúp các doanh nghiệp tiết kiệm được thời gian, chi phí lưu trữ, bảo quản, vận chuyển và in ấn, phát hành.

Giảm thời gian hành chính thuế

đăng 23:49, 1 thg 6, 2017 bởi In Nam Phương   [ đã cập nhật 23:49, 1 thg 6, 2017 ]

Ngày 27/4/2017, Bộ Tài chính ban hành Thông tư 37 sửa đổi, bổ sung quy định về hóa đơn. Nội dung sửa đổi chủ yếu là thời hạn giải quyết các thủ tục hành chính liên quan tới hóa đơn gồm: thủ tục tạo in hóa đơn, đặt in và thủ tục phát hành hóa đơn giá trị gia tăng tự in, đặt in.

Theo đó, điểm mới liên quan đến văn bản đề nghị sử dụng hóa đơn tự in, quy định trong vòng 2 ngày làm việc kể từ khi người nộp thuế gửi văn bản đề nghị sử dụng hóa đơn giá trị gia tăng tự in (Mẫu số 3.14), cơ quan thuế quản lý trực tiếp phải có ý kiến về điều kiện sử dụng hóa đơn tự in của doanh nghiệp (Mẫu số 3.15).

Trường hợp sau 2 ngày làm việc, cơ quan quản lý thuế trực tiếp không có ý kiến bằng văn bản thì doanh nghiệp được sử dụng hóa đơn tự in.

Thủ trưởng cơ quan thuế phải chịu trách nhiệm về việc không có ý kiến bằng văn bản trả lời doanh nghiệp. Quy định cũ là 5 ngày làm việc. Rút ngắn thời hạn thông báo phát hành hóa đơn xuống còn 2 ngày (quy định cũ 5 ngày làm việc)...

Thông tư cũng quy định đối với các lần mua hóa đơn sau, căn cứ đề nghị mua hóa đơn trong đơn đề nghị mua hóa đơn, cơ quan thuế giải quyết bán hóa đơn cho tổ chức, hộ, cá nhân kinh doanh trong ngày, số lượng hóa đơn bán cho tổ chức, hộ, cá nhân kinh doanh không quá số lượng hóa đơn đã sử dụng của tháng mua trước đó.

Thông tư có hiệu lực thi hành kể từ ngày 12/6/2017.

Các chính sách có hiệu lực từ 1/7/2017

đăng 23:40, 1 thg 6, 2017 bởi In Nam Phương   [ đã cập nhật 23:41, 1 thg 6, 2017 ]

Phí khám chữa bệnh đồng loạt tăng

Theo Thông tư 02 của Bộ Y tế, có 3 nhóm dịch vụ dành cho người chưa có thẻ BHYT được điều chỉnh khung giá tối đa, gồm: giá dịch vụ khám bệnh, kiểm tra sức khoẻ; giá dịch vụ ngày giường điều trị; giá dịch vụ kỹ thuật và xét nghiệm dành cho các hạng bệnh viện.

Trong 3 nhóm dịch vụ này, cả hai nhóm dịch vụ khám bệnh và dịch vụ ngày giường điều trị dự kiến có mức tăng giá cao gấp 2 - 4 lần so với giá hiện tại. Cụ thể, tiền khám bệnh đã tăng gấp 4 lần ở phòng khám đa khoa khu vực, trạm y tế xã; tăng 2 lần ở bệnh viện hạng 1 và hạng 2.

Mức tăng này rất lớn với người bệnh phải điều trị nội trú, điều trị dài ngày. Đặc biệt với những bệnh nhân mắc bệnh hiểm nghèo, phải điều trị kỹ thuật cao như ung thư.

Mức viện phí mới với người chưa có thẻ BHYT sẽ áp dụng từ ngày 1/6/2017.

Trẻ em có quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư

Luật trẻ em 2016 cũng bắt đầu có hiệu lực áp dụng từ ngày 01/6/2017 với những điểm mới nổi bật như:

Trẻ em có quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình vì lợi ích tốt nhất của trẻ em.

Chính phủ thiết lập tổng đài điện thoại quốc gia thường trực để tiếp nhận, xử lý thông tin, thông báo, tố giác nguy cơ, hành vi xâm hại trẻ em và quy định quy trình xử lý những thông tin này.

Gia đình, nhà trường và người chăm sóc trẻ em phải có trách nhiệm giáo dục kiến thức, hướng dẫn kỹ năng để trẻ em biết tự bảo vệ mình khi tham gia môi trường mạng. Cùng với đó, Nghị định 56/2017 quy định cụ thể việc bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng sẽ chính thức có hiệu lực từ 1/7.

Không bắt buộc đổi giấy phép lái xe sang vật liệu nhựa

Theo thông tư số 12 được Bộ GTVT ban hành về đào tạo, sát hạch, cấp giấy phép lái xe (bằng lái) cơ giới đường bộ, việc đổi bằng lái in trên giấy bìa sang bằng lái làm bằng thẻ nhựa (vật liệu PET) được "khuyến khích" thực hiện trước ngày 31/12/2020.

Đồng thời, thông tư mới của Bộ GTVT cũng bỏ lộ trình đổi bằng lái xe không thời hạn A1, A2, A3 trước ngày 31/12/2020 như quy định của thông tư số 58 năm 2015 do Bộ GTVT ban hành.

Như vậy, việc ấn định thời hạn buộc đổi bằng lái xe từ bìa giấy sang thẻ nhựa như thông tư trước đó đã bị bãi bỏ.

Theo đó, người có bằng lái xe có thời hạn chỉ thực hiện việc đổi bằng lái xe trước khi hết thời hạn sử dụng; người có giấy phép lái xe bị hỏng còn thời hạn sử dụng được đổi giấy phép lái xe.

Thông tư 12/2017 có hiệu lực từ ngày 01/6/2017 và thay thế Thông tư 58/2015.

Chế độ tiền lương đối với người lao động làm việc theo hình thức cộng đồng

Thông tư 11 của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội quy định người lao động đăng ký tham gia dự án, hoạt động thực hiện chính sách việc làm công (làm việc theo hình thức cộng đồng) được thỏa thuận tiền công. Tuy nhiên, tiền lương của người lao động theo hình thức này phải đảm bảo không thấp hơn lương tối thiểu vùng đối với người lao động làm đủ 8 giờ/ngày và 26 ngày/tháng.

Trường hợp người lao động làm không đủ 8 giờ/ngày hoặc 26 ngày/tháng thì tiền công tính theo giờ và không được thấp hơn tiền lương tối thiểu vùng chia 26 ngày và chia 8 giờ.

Trường hợp người lao động làm thêm giờ thì được thanh toán tiền công theo giờ nhưng không được thấp hơn tiền lương tối thiểu vùng chia 26 ngày và chia 8 giờ.

Giảm mức đóng BHXH cho người sử dụng lao động

Nghị định 44 được Chính phủ ban hành quy định tỉ lệ đóng 0,5 % của người sử dụng lao động vào Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.

Theo đó, từ 1/6/2017, người sử dụng lao động hằng tháng đóng vào Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo quy định tại khoản 3 Điều 44 Luật an toàn, vệ sinh lao động với mức như sau:

0,5% trên quỹ tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội của người lao động được quy định tại các điểm a, b, c, d, đ và h khoản 1 Điều 2 Luật bảo hiểm xã hội, trừ trường hợp lao động là người giúp việc gia đình.

0,5% trên mức lương cơ sở đối với người lao động được quy định tại điểm e khoản 1 Điều 2 Luật bảo hiểm xã hội.

Theo quy định hiện hành, người sử dụng lao động hàng tháng đóng tối đa 1% trên quỹ tiền lương làm căn cứ đóng BHXH của người lao động vào quỹ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.

Rút ngắn thời gian hoàn thuế

Thông tư 31/2017/TT-BTC của Bộ Tài chính về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 99/2016/TT-BTC ngày 29/06/2016 của Bộ Tài chính hướng dẫn về quản lý hoàn thuế giá trị gia tăng, có hiệu lực thi hành từ ngày 2-6 quy định.

Theo đó, cơ quan thuế sẽ phải công khai thời điểm Kho bạc Nhà nước chi hoàn thuế giá trị gia tăng (in hóa đơn GTGT) cho người nộp thuế trên Cổng thông tin điện tử của Tổng cục Thuế, bên cạnh việc công khai những thông tin như thời điểm tiếp nhận hồ sơ hoàn thuế; thời điểm tiếp nhận văn bản giải trình, bổ sung thông tin, tài liệu của người nộp thuế; thời điểm ban hành thông báo, quyết định giải quyết hoàn thuế GTGT đã quy định trước đây.

Rút ngắn thời gian thực hiện hoàn thuế cho người nộp thuế. Đó là rút ngắn thời gian thực hiện hoàn thuế cho người nộp thuế từ 3 ngày xuống còn 1 ngày làm việc kể từ ngày nhận được lệnh hoàn trả...

Trường hợp được mua hóa đơn miễn phí

Thông tư 37/2017/TT-BTC của Bộ Tài chính về việc sửa đổi, bổ sung Thông tư 39/2014/TT-BTC, Thông tư 26/2015/TT-BTC của Bộ Tài chính, có hiệu lực từ ngày 12-6 quy định.

Theo đó, trước khi bắt đầu sử dụng in hóa đơn, doanh nghiệp phải gửi thông báo phát hành hóa đơn và hóa đơn mẫu đến cơ quan thuế quản lý trực tiếp trước ít nhất 2 ngày, thay vì 5 ngày như quy định cũ.

Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân kinh doanh được mua hóa đơn theo tháng với số lượng mua lần đầu tối đa là 1 quyển 50 số cho mỗi loại hóa đơn. Trường hợp không có nhu cầu sử dụng hóa đơn quyển mà có nhu cầu sử dụng hóa đơn lẻ thì được mua hóa đơn lẻ (1 số) theo từng lần phát sinh và không phải nộp tiền

Bộ Tài chính đang nghiên cứu cơ chế bắt buộc các doanh nghiệp sử dụng in hóa đơn điện tử

đăng 17:56, 25 thg 5, 2017 bởi In Nam Phương   [ đã cập nhật 17:58, 25 thg 5, 2017 ]

Bộ Tài chính đang nghiên cứu cơ chế bắt buộc các doanh nghiệp sử dụng in hóa đơn điện tử nhằm ngăn chặn việc quay vòng hóa đơn để khấu trừ, hoàn thuế in hóa đơn GTGT hoặc thanh toán từ ngân sách Nhà nước (NSNN).

Hiện nay, nhiều đối tượng đã lợi dụng sự thông thoáng của Luật doanh nghiệp trong thủ tục thành lập doanh nghiệp để thành lập nhiều công ty “ma”, thực tế không kinh doanh nhưng được tự tạo hóa đơn, xuất hóa đơn khống, sử dụng hóa đơn lòng vòng để khấu trừ, hoàn thuế GTGT hoặc thanh toán tiền từ NSNN.

Theo các chuyên gia tài chính, công tác quản lý thuế gặp nhiều khó khăn, đặc biệt về quản lý kê khai, hoàn thuế GTGT. Bởi, với tỷ lệ 91,8% là hóa đơn giấy, 8,2% là hóa đơn điện tử nên không có quy định bắt buộc doanh nghiệp chuyển dữ liệu hóa đơn về cơ quan thuế.

Để phù hợp với thông lệ quốc tế, theo quy định tại Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật về thuế số 71/2014/QH13, từ ngày 1/1/2015 người nộp thuế không phải gửi Bảng kê hàng hóa dịch vụ mua vào, bán ra cho cơ quan thuế và không có quy định chuyển dữ liệu hóa đơn nên cơ quan thuế không có thông tin về giao dịch kinh tế ghi trên hóa đơn do đó nhiều đối tượng đã lợi dụng kẽ hở này để phát hành hóa đơn nhưng không kê khai nộp thuế để trốn thuế.

Bên cạnh đó, quy định hiện hành về quản lý, sử dụng hóa đơn (nội dung ghi trên hóa đơn, về thủ tục phát hành, quản lý hóa đơn, trách nhiệm của tổ chức kinh tế, trách nhiệm của cơ quan thuế…) được xây dựng cơ bản để áp dụng quản lý đối với hóa đơn giấy (theo hình thức đặt in, tự in) đã có nhiều sơ hở, bất cập, theo đó phương thức quản lý hóa đơn giấy đã trở nên lạc hậu không phù hợp với bối cảnh triển khai thủ tục hành chính điện tử và không phù hợp với tinh thần Nghị quyết số 36a/NQ-CP ngày 14/10/2015 về Chính phủ điện tử là giao Bộ Tài chính “thực hiện hóa đơn điện tử trên phạm vi toàn quốc; trong đó cơ quan thuế hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ thực hiện hóa đơn điện tử có xác thực của cơ quan thuế”.

Theo Bộ Tài chính, do chưa có quy định bắt buộc về việc áp dụng in hóa đơn điện tử nên dù hóa đơn điện tử mang lại nhiều lợi ích kinh tế so với hóa đơn giấy (hóa đơn điện tử giúp doanh nghiệp giảm chi phí quản lý, lưu trữ, tiết kiệm thời gian, bảo vệ môi trường….nhưng đến nay, việc áp dụng hóa đơn điện tử chưa thực sự đi sâu vào cộng đồng doanh nghiệp, xã hội và một số cơ quan khác của nhà nước cũng chưa chấp nhận hình thức hóa đơn điện tử của doanh nghiệp.

Hiện, số lượng doanh nghiệp sử dụng hóa đơn điện tử cũng đã tăng hơn trong những năm vừa qua (30 doanh nghiệp năm 2011, tăng lên 331 năm 2015 và năm 2016 là 656 đơn vị). Số lượng hóa đơn điện tử được sử dụng cũng tăng mạnh qua các năm (từ 9.014 năm 2011 lên hơn 277 triệu vào năm 2016). Ở thời điểm hiện tại, cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin (sử dụng mạng Internet) đã đủ năng lực đáp ứng việc sử dụng hóa đơn điện tử.

Theo số liệu của Cục Viễn thông (Bộ Thông tin và Truyền thông) thì đến tháng 1/2017 cả nước có hơn 43,9 triệu thuê bao 3G (thuê bao Internet băng rộng di động – Data Card 3G) và tổng số thuê bao Internet băng rộng cố định là hơn 9,3 triệu. Sóng 3G đã phủ khắp 63 tỉnh, thành phố và dịch vụ 4G cũng đang được các nhà mạng mở rộng.

Phía Tổng cục thuế cũng đã chuẩn bị về cơ sở hạ tầng với việc đảm bảo kết nối từ tổng cục (cấp trung ương) tới 63 cục thuế. Dịch vụ kê khai, nộp thuế điện tử cũng đã được triển khai với 576.056 doanh nghiệp (chiếm 99% doanh nghiệp đang hoạt động)…

Theo lộ trình được Tổng cục Thuế đưa ra: Từ đầu năm 2019, việc sử dụng hóa đơn điện tử và hóa đơn điện tử có mã của cơ quan thuế sẽ mở rộng thêm với nhiều đối tượng doanh nghiệp khác. Mục tiêu là đến đầu năm 2020, sẽ có 80% các doanh nghiệp, tổ chức sử dụng hóa đơn điện tử, hóa đơn điện tử có mã của cơ quan thuế. Trước tiên, các hộ kinh doanh có doanh thu trên 3 tỷ đồng sẽ bắt đầu bắt buộc sử dụng hóa đơn điện tử.

Truy tố hai đối tượng lập hóa đơn khống

đăng 23:23, 23 thg 5, 2017 bởi In Nam Phương   [ đã cập nhật 23:24, 23 thg 5, 2017 ]

Ngày 22/5, Công an TP.HCM vừa hoàn tất kết luận điều tra, chuyển hồ sơ sang VKSND đề nghị truy tố Nguyễn Đăng Khoa (SN 1979, ngụ quận 8, TP.HCM), Đỗ Quốc Thảo (SN 1971, ngụ quận 10, TP.HCM) về tội Chiếm đoạt tài sản.

Được biết, các đối tượng trên đều là nhân viên bán hàng của công ty TNHH Thái Nakorn Patana Việt Nam – công ty 100% vốn nước ngoài, chuyên sản xuất tân dược.

Từ đầu năm 2014 đến đầu năm 2015, lợi dụng nhiệm vụ được giao, Khoa và Thảo đã lập khống in hoa don đặt hàng bằng cách sử dụng tên, thông tin những công ty, cơ sở đã có giao dịch nhưng có ít hoặc không có công nợ với công ty để đặt hàng. Tổng giá trị các đơn thuốc tân dược ước tính trị giá hơn 15 tỷ đồng.

Sau đó, Khoa và Thảo mang bán ra ngoài, lấy tiền mua đất đai, tiêu xài. Do lo sợ số tiền chiếm đoạt quá lớn, Khoa tự thú, trả lại cho công ty 500 triệu đồng và một lượng hàng hóa tương đương 327 triệu đồng.

Trong thời gian điều tra, Thảo và gia đình nộp lại 746,5 triệu đồng, trả hàng hóa tương đương 138 triệu đồng.

Cần Thơ bắt nữ giám đốc bán khống hóa đơn bị khởi tố

đăng 23:20, 23 thg 5, 2017 bởi In Nam Phương   [ đã cập nhật 23:21, 23 thg 5, 2017 ]

Cơ quan CSĐT Công an quận Ninh Kiều (TP.Cần Thơ) cho biết, đã tống đạt quyết định khởi tố bị can đối với Huỳnh Thị Mỹ Hằng (51 tuổi, ngụ phường An Khánh, quận Ninh Kiều; Giám đốc công ty TNHH MTV TMDV Hoàng Ngon, trụ sở tại tỉnh Hậu Giang) để điều tra về hành vi mua bán trái phép in hoa don giá trị gia tăng.

Cùng với hành vi này, trước đó, Ngô Thị Bích Vân (45 tuổi, ngụ phường An Bình, quận Ninh Kiều; Giám đốc công ty TNHH TMDV Tâm Vân Petro, trụ sở tại phường An Bình, quận Ninh Kiều) cũng bị cơ quan CSĐT Công an quận Ninh Kiều khởi tố, bắt giam.

Theo cơ quan điều tra, trong thời gian làm giám đốc, Vân đã sử dụng 84 hóa đơn khống của 6 doanh nghiệp có đăng ký giấy phép nhưng không hoạt động (doanh nghiệp "ma") với doanh số gần 120 tỷ đồng, tiền thuế giá trị gia tăng gần 12 tỷ đồng.

Ngoài ra, trong quá trình điều tra ban đầu, ngành chức năng xác định, công ty TNHH TMDV Tâm Vân Petro còn bán hơn 500 hóa đơn khống không hàng hóa cho 12 doanh nghiệp với tổng giá trị hàng hóa gần 30 tỷ đồng, thuế giá trị gia tăng gần 3 tỷ đồng.

Đồng thời, cơ quan CSĐT Công an quận Ninh Kiều đã tống đạt quyết định khởi tố bị can, cấm khỏi nơi cư trú đối với Đặng Thị Ngọc Bích (46 tuổi, ngụ thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long). Bích được xác định với vai trò môi giới, đã giới thiệu nhiều doanh nghiệp đến mua hóa đơn của công ty do Vân làm giám đốc.

Được biết, công ty TNHH TMDV Tâm Vân Petro chuyên kinh doanh xăng dầu, khai thác cát, vận tải đường bộ - thủy; buôn bán máy móc, thiết bị, xây dựng.

Trước đó, Vân từng có một tiền án về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.

Hiện, vụ việc đang được ngành chức năng tiếp tục điều tra, làm rõ.

Giải đáp thắc mắc in hóa đơn điện tử

đăng 20:49, 21 thg 5, 2017 bởi In Nam Phương   [ đã cập nhật 20:50, 21 thg 5, 2017 ]

Cụ thể, về chữ ký điện tử của người mua trên hóa đơn điện tử, ngày 23/02/2016, Bộ Tài chính đã có Công văn số 2402/BTC-TCT hướng dẫn thực hiện về chữ ký điện tử của người mua trên IN hóa đơn điện tử.

Trường hợp khách hàng không phải là đơn vị kế toán hoặc là đơn vị kế toán nếu có các hồ sơ, chứng từ chứng minh việc cung cấp dịch vụ giữa Bệnh viện Bạch Mai và khách hàng như: phiếu thu, biên nhận thanh toán, hồ sơ chứng từ gốc liên quan hoạt động khám chữa bệnh hoặc các hoạt động khác thì hóa đơn điện tử Bệnh viện lập cho khách hàng không nhất thiết phải có chữ ký điện tử của khách hàng.

Về tiêu thức chữ ký và dấu của người bán trên hóa đơn điện tử chuyển đổi sang giấy, tại khoản 2,3,4 Điều 12 Thông tư số 32/2011/TT-BTC ngày 14/3/2011 của Bộ Tài chính quy định hóa đơn điện tử chuyển sang hóa đơn giấy phải đáp ứng đủ các điều kiện sau: Phản ánh toàn vẹn nội dung của hóa đơn điện tử gốc; Có ký hiệu riêng xác nhận đã được chuyển đổi từ hóa đơn điện tử sang hóa đơn giấy; Có chữ ký và họ tên của người thực hiện chuyển từ hóa đơn điện tử sang hóa đơn giấy.

Giá trị pháp lý của hóa đơn điện tử chuyển đổi: Hóa đơn điện tử chuyển đổi có giá trị pháp lý khi bảo đảm các yêu cầu về tính toàn vẹn của thông tin trên hóa đơn nguồn, ký hiệu riêng xác nhận đã được chuyển đổi và chữ ký, họ tên của người thực hiện chuyển đổi được thực hiện theo quy định của pháp luật về chuyển đổi chứng từ điện tử.

Về ký hiệu riêng trên hóa đơn chuyển đổi, ký hiệu riêng trên hóa đơn chuyển đổi từ hóa đơn điện tử sang hóa đơn dạng giấy bao gồm đầy đủ các thông tin sau: Dòng chữ phân biệt giữa hóa đơn chuyển đổi và hóa đơn điện tử gốc – hóa đơn nguồn (Ghi rõ “hóa đơn chuyển đổi từ hóa đơn điện tử); họ và tên, chữ ký của người được thực hiện chuyển đổi; thời gian thực hiện chuyển đổi.

Theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 4 Thông tư số 39/2014/TT-BTC ngày 31/3/2014, đối với doanh nghiệp sử dụng hóa đơn với số lượng lớn, chấp hành tốt pháp luật thuế, căn cứ đặc điểm hoạt động kinh doanh, phương thức tổ chức bán hàng, cách thức lập hóa đơn của doanh nghiệp và trên cơ sở đề nghị của doanh nghiệp, Cục Thuế xem xét và có văn bản hướng dẫn hóa đơn không nhất thiết phải có tiêu chức “dấu của người bán”.

Căn cứ quy định nêu trên và để phù hợp với thực tế hoạt động của Bệnh viện có nhu cầu chuyển đổi hóa đơn điện tử sang giấy lớn và hệ thống của bệnh viện đảm bảo chuyển đổi hóa đơn điện tử sang giấy duy nhất 1 lần, đồng thời để tránh tình trạng trục lợi bảo hiểm, Tổng cục Thuế đề nghị Bệnh viện Bạch Mai thực hiện chuyển hóa đơn điện tử sang giấy để giao cho khách hàng trong trường hợp khách hàng có nhu cầu chuyển đổi sang giấy và chỉ được chuyển đổi 01 lần.

Trên hóa đơn điện tử chuyển đổi sang giấy của Bệnh viện không nhất thiết phải có dấu và chữ ký người đại diện theo pháp luật. Hóa đơn điện tử chuyển đổi sang giấy phải đáp ứng được các điều kiện theo quy định tại khoản 2,3,4 Điều 12 Thông tư số 32/2011/TT-BTC ngày 14/3/2011 của Bộ Tài chính. Bệnh viện phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc chuyển đổi hóa đơn điện tử sang giấy.

Về việc hóa đơn điện tử chuyển đổi sang giấy có số dòng nhiều hơn một trang, theo quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 3 Thông tư số 32/2011/TT-BTC ngày 14/3/2011 của Bộ Tài chính, hóa đơn điện tử là tập hợp các thông điệp dữ liệu điện tử về bán hàng hóa cung ứng dịch vụ, được khởi tạo, lập, gửi, nhận, lưu trữ và quản lý bằng phương tiện điện tử. Hóa đơn điện tử phải đáp ứng các nội dung quy định tại Điều 6 Thông tư này.

Bên cạnh đó, hóa đơn điện tử có giá trị pháp lý nếu thỏa mãn đồng thời các điều kiện sau:

- Có sự đảm bảo đủ tin cậy về tính toàn vẹn của thông tin chứa trong hóa đơn điện tử từ khi thông tin được tạo ra ở dạng cuối cùng là hóa đơn điện tử. Tiêu chí đánh giá tính toàn vẹn là thông tin còn đầy đủ và chưa bị thay đổi ngoài những thay đổi về hình thức phát sinh trong quá trình trao đổi, lưu trữ hoặc hiển thị hóa đơn điện tử.

- Thông tin chứa trong hóa đơn điện tử có thể truy cập, sử dụng được dưới dạng hoàn chỉnh khi cần thiết.

Bên cạnh đó, tại khoản 1 Điều 19 Thông tư số 39/2014/TT-BTC ngày 31/3/2014 của Bộ Tài chính hướng dẫn trường hợp khi bán hàng hóa, dịch vụ nếu danh mục hàng hóa, dịch vụ nhiều hơn số dòng của một số hóa đơn thì Cục Thuế xem xét từng trường hợp cụ thể để chấp thuận cho cơ sở kinh doanh được sử dụng hóa đơn nhiều hơn một trang nếu trên phần đầu của trang sau của hóa đơn có hiển thị: cùng số hóa đơn như của trang đầu (do hệ thống máy tính cấp tự động); cùng tên, địa chỉ, mã số thuế (MST) của người mua, người bán như trang đầu; cùng mẫu và ký hiệu hóa đơn như trang đầu; kèm theo ghi chú bằng tiếng Việt không dấu “tiep theo trang truoc-trang X/Y” (trong đó X là số thứ tự trang và Y là tổng số trang của hóa đơn đó).

Căn cứ quy định nêu trên, để phù hợp với đặc thù của hóa đơn điện tử, trường hợp chuyển đổi hóa đơn điện tử ra giấy, nếu số lượng hàng hóa, dịch vụ bán ra nhiều hơn số dòng của một trang hóa đơn thì Bệnh viện Bạch Mai thực hiện tương tự trường hợp sử dụng hóa đơn tự in mà việc lập và in hóa đơn thực hiện trực tiếp từ phần mềm và số lượng hàng hóa, dịch vụ bán ra nhiều hơn số dòng của một trang hóa đơn.

Cụ thể, bệnh viện được thể hiện hóa đơn nhiều hơn một trang nếu trên phần đầu trang sau của hóa đơn có hiển thị: cùng số hóa đơn như của trang đầu (do hệ thống máy tính cấp tự động); cùng tên, địa chỉ, MST của người mua, người bán như trang đầu; cùng mẫu và ký hiệu hóa đơn như trang đầu; kèm theo ghi chú bằng tiếng Việt không dấu “tiep theo trang truoc – trang X/Y (trong đó X là số thứ tự trang và Y là tổng số trang của hóa đơn đó).

Đối với trường hợp hóa đơn điện tử đã lập sau đó phát hiện sai sót theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 9 Thông tư số 32/201/TT-BTC thì Bệnh viện lập văn bản xác nhận sai sót bằng giấy có chữ ký của người mua và người bán. Bệnh viện lập hóa đơn điện tử điều chỉnh sai sót theo quy định tại Điều 9 Thông tư số 32/2011/TT-BTC.

Về vấn đề kết nối phần mềm khám chữa bệnh với phần mềm kế toán, Bệnh viện Bạch Mai thực hiện kết chuyển dữ liệu từ phần mềm khám chữa bệnh vào phần mềm kế toán theo định kỳ (một ngày một lần) theo số tổng cộng để thực hiện hạch toán kế toán và thực hiện nghĩa vụ nộp thuế. Bệnh viện Bạch Mai chịu trách nhiệm về tính chính xác của số liệu kê khai thuế, hạch toán kế toán để xác định kết quả kinh doanh.

Bệnh viện Bạch Mai phải chủ động tuyên truyền cho khách hàng việc thực hiện hóa đơn điện tử của Bệnh viện để khách hàng hiểu và chấp nhận hóa đơn điện tử, đồng thời, chủ động phối hợp với Cục Thuế địa phương để hỗ trợ trong quá trình triển khai thực hiện hóa đơn điện tử.

1-10 of 277